- Trong suốt giai đoạn khủng hoảng kinh tế trước đây, châu Á phải vay rất nhiều tiền để duy trì tốc độ phát triển.
- Tuy nhiên, ngay cả khi kinh tế đã dần hồi phục thì châu Á vẫn giữ thói quen tiếp tục vay thêm tiền khiến gánh nặng nợ ngày một tăng. Kết quả là hiện tại, châu Á đang phải gồng mình trả nợ và không dám vay thêm tiền khiến tốc độ phát triển chậm chạp, gây ảnh hưởng tới triển vọng kinh tế toàn cầu.
Các quốc gia châu Á đã vay rất nhiều tiền để duy trì tốc độ phát triển trong suốt giai đoạn khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, họ vẫn không thể xóa bỏ “thói quen xấu” này ngay cả khi kinh tế toàn cầu đã phục hồi trở lại. Hậu quả là hiện tại, châu Á đang cảm nhận thấy rõ những hệ lụy.
Tốc độ phát triển đang chậm đi một cách nhanh chóng trên toàn châu lục khi người tiêu dùng và cả các doanh nghiệp đều tập trung vào việc trả nợ. Các ngân hàng trung ương liên tục giảm lãi suất, đẩy giá trị đồng tiền xuống thấp nhưng nền kinh tế vẫn không thể tăng trưởng cao hơn được. Nhu cầu vẫn ở mức yếu, lương trì trệ và tốc độ phát triển chậm chạp khiến việc đi vay bây giờ thậm chí còn khó hơn trả nợ.
Điều này có thể gây tác động đáng kể đến triển vọng kinh tế của khu vực, từ đó kéo tụt tốc độ phát triển toàn cầu.
“Vấn đề ở đây là người châu Á đang phải gánh quá nhiều nợ. Thậm chí ngay cả khi ngân hàng trung ương cắt giảm tỷ lệ lãi suất xuống còn 0 thì mọi người cũng sẽ không đi vay thêm tiền”, Paul Sheard – kinh tế trưởng tại Ratings Services của Standard & Poor nói.
Kim Hee-do – nhân viên văn phòng 35 tuổi tại Seoul là một trong số những người từ chối vay tiền mặc dù ngân hàng trung ương Hàn Quốc đã 3 lần cắt giảm tỷ lệ lãi suất trong vài tháng gần đây. Vợ của Kim thì muốn đổi chiếc xe ô tô mới khi thấy lãi suất vay chỉ còn 1,75% nhưng anh lại ngăn cản vợ làm điều này. “Tôi có thể thuyết phục được bản thân làm vậy. Nhưng tôi cảm thấy không thể tiêu nhiều hơn nữa và lo lắng cho tương lai của chính mình”.
Một nửa tổng số nợ trên toàn cầu trong khoảng 7 năm qua đến từ những nền kinh tế mới nổi và đa phần là ở châu Á. Riêng Trung Quốc chiếm khoảng 1/3 sự gia tăng nợ trên toàn cầu kể từ năm 2007 theo nghiên cứu của McKinsey.
Mức nợ tại hàng loạt quốc gia châu Á như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan và Hàn Quốc đang cao hơn so với trước khủng hoảng tài chính châu Á vào những năm 1990. Một vài quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia và Úc còn có tỷ lệ nợ/thu nhập cao hơn cả Mỹ trong thời kỳ trước khủng hoảng tài chính.
Vấn đề nằm ở chỗ, dù đã thận trọng hơn với các khoản nợ sau tổn thất từ khủng hoảng tài chính nhưng nhiều quốc gia châu Á vẫn muốn vay thêm tiền sau khi khủng hoảng đã qua đi. “Châu Á đã trở nên ‘nghiện’ việc đi vay. Nó khiến các nhà tạo lập chính sách cảm thấy hài lòng”, Frederic Neumann – đồng chủ tịch công ty nghiên cứu HSBC Holdings nói.
Có 1 yếu tố chủ chốt khiến châu Á rơi vào tình trạng này. Khi Mỹ hạ lãi suất, hàng loạt các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc đã “hào hứng” trở thành con nợ của kho bạc Mỹ. Ngày nay, chính sách tiền tệ siêu nới lỏng tại Mỹ, châu Âu và Nhật Bản đã gây ra cuộc đổ bộ của dòng tiền vào châu Á. Lãi suất giảm cho phép chính phủ, các công ty và cá nhân vay nhiều hơn trước tại mức lãi suất thấp nhất trong lịch sử.
Việc vay tiền này diễn ra khác nhau tại nhiều quốc gia trong khu vực.
Tại Trung Quốc, những doanh nghiệp khổng lồ thuộc sở hữu nhà nước, các công ty bất động sản và chính quyền địa phương nằm trên đống nợ. Tại Malaysia và Thái Lan, người tiêu dùng vay tiền để chi tiêu và chạy theo thói quen của tầng lớp trung lưu như mua ô tô và vật dụng gia đình.
Các nhà sản xuất hàng hóa tại châu Á thì đi vay tiền với niềm tin rằng nhu cầu tăng cao và giá cao sẽ tạo ra lợi nhuận khổng lồ để đáp ứng các khoản đầu tư. Tại Nhật Bản, chính phủ cũng suy nghĩ theo hướng này, đẩy nợ hiện tại lên 400% so với sản lượng đầu ra hàng năm của nền kinh tế, mức cao nhất thế giới.


0 nhận xét:
Đăng nhận xét